Hỗ trợ trực tuyến

  • (^^)
    GIỜ XÓM ỐC
    LIÊN KẾT WEBSITE
    PHÒNG GD–ĐT QUẢNG NINH
    BÀI HÁT HAY

    Trường học thân thiện
    Tuổi mười lăm
    CÁC WEBSIZE
    HỔ TRỢ TRỰC TUYẾN

    Họ và tên: Lê Văn Hào
    0974 262 550
    ( )

Câu đố tuần này

Con gì ăn no, bụng to mắt híp, mồm kêu ụt ịt, nằm thở phì phò
Con người
Con bò
Con heo
Con chó
Con lợn

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Images_14.jpg Diendanhaiduongcom19072_25.jpg Baner_Tet_1.swf Banner_201314.swf Mua_tren_pho_Hue_HBT__Ngoc_Son_NCT_9631505301.mp3 Tai_lieu_mau_ve_Bac_Ho.flv Thap_Nhan__Tuy_Hoa.jpg Cam_Ranh_.flv 025Duong_ve_hai_thon__Thu_hien.mp3 Ha_trang_duoc_2.swf Bay_giua_ngan_ha.swf MUNG_NANG_XUAN_VE.swf San_pham_dau_tay_cua_tui.swf Chuc_mung_nam_moi_Happy_new_year_.flv Gs_ngotngao.swf Mung_Giang_Sinh_20104.flv Buiphan.swf Tranh_3.bmp Mua_thu.swf Images51.jpg

    Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Website của Lê Văn Hào.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Trang thơ > Thơ Việt >

    Bài thơ "Bên kia sông Đuống" của Hoàng Cầm xứng đáng là một kiệt tác của thi ca Việt Nam hiện đại.

     

    Cập nhật lúc 20h00, ngày 02/05/2009

    Một đêm tháng 4/1948, tại Việt Bắc, được trực tiếp nghe tin giặc đánh phá quê hương mình, Hoàng Cầm xúc động và ngay đêm ấy viết bài thơ “Bên kia sông Đuống”, một trong những bài thơ hay nhất của ông.


        Bài thơ thể hiện tình yêu mến, thương nhớ và tự hào đối với quê hương kinh Bắc; căm giận quân xâm lược đang giày xéo quê hương; niềm tin vào một ngày mai giải phóng, quê hương trở lại thanh bình.

    Những tình cảm đẹp về quê hương và những câu thơ hay đáng nhớ

        1. Hai câu thơ mở đầu với tiếng “em” thần tình.
    Không xác định. Có thể là người thương trong nỗi nhớ đồng vọng. Có thể là một nhân vật trữ tình xuất hiện mơ hồ trong tâm tưởng thi nhân? Cũng có thể là sự phân thân của tác giả? “Em” xuất hiện, gợi nhớ gợi thương, để vỗ về an ủi và chia xẻ nỗi đau buồn, thương nhớ. Cũng là để thi sĩ khơi nguồn cảm xúc đang dào dạt trong lòng. Ý vị đậm đà chất thơ của bài “Bên kia sông Đuống” là ở tiếng “em” và 2 câu thơ này:

    Ảnh minh họa


                “Em ơi buồn làm chi
                Anh đưa em về sông Đuống”


        2. Dòng sông tuổi thơ


        Với Hoàng Cầm thì sông Đuống là dòng sông thơ ấu với bao thương nhớ. Con sông đã gắn bó với tâm hồn nhà thơ. Nhớ không nguôi “cát trắng phẳng lì”, nhớ nao nao lòng “Sông Đuống trôi đi - Một dòng lấp lánh”; lấp lánh ánh bình minh, lấp lánh trăng sao soi vào gương sông trong xanh. Nhớ về dáng hình, về thế đứng của nó trong lịch sử: “Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ”. Câu thơ mang hàm nghĩa thế đứng hiên ngang của quê hương trong kháng chiến.

    Đôi bờ dòng sông quê hương là một màu “xanh xanh” bát ngát, là sắc “biêng biếc” của bãi mía, bờ dâu, của ngô khoai. Bức tranh quê trù phú, giàu đẹp thật “nhớ tiếc” và “xót xa” vô cùng:

                “Xanh xanh bãi mía bờ dâu
                Ngô khoai biêng biếc
                Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
                Sao xót xa như rụng bàn tay”


        3. Quê hương có nền văn hóa lâu đời đang bị quân thù giày xéo tàn phá. Nhà thơ sử dụng nghệ thuật tương phản đối lập để làm nổi bật nỗi nhớ tiếc, nỗi xót xa, nỗi đau đớn căm hờn… Tương phản xưa và nay, thuở bình yên với từ ngày khủng khiếp, đối lập giữa cảnh tưng bừng rộn rã với bây giờ tan tác về đâu…

        - Giặc Pháp cướp nước là kẻ đã gây ra cảnh chém giết đau thương và điêu tàn khủng khiếp:

                “Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
                Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
                Ruộng ta khô
                Nhà ta cháy
                Chó ngộ một đàn
                Lưỡi dài lê sắc máu…”


        Xưa kia, vùng Thuận Thành, bên kia sông Đuống, quê hương thân yêu của nhà thơ là một vùng giàu đẹp, có hương lúa nếp “thơm nồng”, có làng tranh Đông Hồ nổi tiếng, sự kết tinh những tinh hoa văn hóa cổ truyền giàu bản sắc dân tộc:

                “Bên kia sông Đuống
                Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
                Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
                Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”

        Nay giặc kéo đến thì “Ruộng ta khô – Nhà ta cháy”, điêu tàn, tan tác, đau thương. Nỗi tang tóc trùm lên, đè nặng mọi kiếp người. Hạnh phúc và ước mơ bị giày xéo, bị chà đạp. Sự sống bị hủy diệt đến kiệt cùng:

                “Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang.
                Mẹ con đàn lợn âm dương
                Chia lìa đôi ngả
                Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
                Bây giờ tan tác về đâu”


        Tranh Đông Hồ trong thơ Hoàng Cầm không chỉ là nét đẹp riêng rất tự hào của quê hương mình mà còn là một biểu tượng của hạnh phúc, đoàn tụ, yên vui trong thanh bình, là nỗi đau trước sự tàn phá, điêu tàn, tan tác của một miền văn hóa lâu đời thời máu lửa.

        Thuận Thành, Kinh Bắc có núi sông mĩ lệ, chùa chiền thắng cảnh với bao lễ hội tưng bừng mang theo bao huyền thoại, sự tích thần kỳ, với những gác chuông, những tháp, những tượng Phật cổ kính bao đời nay. Chùa Phật Tích, núi Thiên Thai, chùa Dâu, chùa Bút Tháp, tượng Phật Quan Âm nghìn mắt nghìn tay. Ca dao: “Dù ai đi đẩu đi đâu - Cứ nhìn thấy tháp Chùa Dâu mà về”. Tục ngữ: “Mồng bảy hội Khám, mồng tám hội Dâu, mồng chín đâu đâu cũng về hội Gióng”. Phan Huy Chú đã viết trong “Lịch triều hiến chương loại chí”: “Kinh Bắc có mạch núi cao chót vót, nhiều sông quanh vòng, là mạn trên của nước ta… Mạch đất tốt tụ vào đấy nên càng nhiều chỗ có dấu tích đẹp, tinh hoa hợp vào đấy nên sinh ra nhiều danh thần”.

        Trong chiến tranh, đưa con ly hương nhớ tiếc, xót xa quê hương:

                “Ai về bên kia sông Đuống
                Cho ta gửi tấm the đen
                Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
                Những hội hè đình đám
                Trên núi Thiên Thai
                Trong chua Bút Tháp
                Giữa huyện Lang Tài
                Gửi về may áo cho ai
                Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu”…


        4. Nhớ con người quê hương

        Nhớ sông Đuống, nhớ bãi mía bờ dâu, nhớ hương lúa nếp thơm nồng… Nhớ mãi, nhớ nhiều những hội hè đình đám, nhớ tranh gà lợn, nhớ giấy điệp. Nhớ núi Thiên Thai, nhớ chuông chùa ngân nga… Nhớ “nàng môi cắn chỉ quết trầu”, nhớ cụ già “phơ phơ tóc trắng”, nhớ “những em sột soạt quần nâu”. Nhớ bồi hồi “từng khuôn mặt búp sen - Những cô hàng xén răng đen - Cười như mùa thu tỏa nắng”. Nhớ “những nàng dệt sợi – Đi bán lụa mầu”… nhớ “Những người thợ nhuộm - Đồng Tỉnh, Huê Cầu…”.

        Câu thơ “Bây giờ tan tác về đâu” và “Bây giờ đi đâu về đâu” được nhấn đi nhấn lại nhiều lần, vừa gợi tả nỗi đau thương tan tác, vừa thể hiện nỗi nhớ ứa máu tơi bời, nỗi xót xa và căm giận lũ hung tàn cướp nước.

    Những câu thơ nói về nỗi thương nhớ đàn con thơ và mẹ già rất xúc động:

        - Thương mẹ già:

                “Mẹ ta lòng đói dạ sầu
                Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ”


        - Thương đàn con thơ:

                “Ngày tranh nhau một bát cháo ngô
                Đêm líu ríu chui gầm giường tránh đạn…”


        5. Quê hương chiến đấu

        Cảnh đón bộ đội về làng rất cảm động. Cuộc hội ngộ tình quân dân cũng là sự hồi sinh và niềm vui hạnh phúc:

                “Lửa đèn leo lét soi tình mẹ,
                Khuôn mặt bừng lên như dựng trăng”


        Cảnh giết giặc: Dao lóe giữa chợ - Gậy lùa cuối thôn – Lúa chín vàng hoe, giặc mất hồn… Chúng mày phát điên – Quay cuồng như xéo trên đống lửa”…

        - Đồng quê quật khởi đứng lên:

                “Mà cánh đồng ta còn chan chứa
                Bao nhiêu nắng đẹp mùa xuân
                Gió đưa tiếng hát về gần
                Thợ cấy đánh giặc, dân quân cày bừa”


        6. Ngày hội non sông


        Hoàng Cầm viết bài thơ “Bên kia sông Đuống” vào năm 1948, lúc bấy giờ quê hương đất nước ta còn đầy bóng giặc, chân trời thắng lợi còn xa vời. Phải gần 7 năm sau, ta mới có chiến thắng Điện Biên Phủ. Thế mà thi sĩ đã nói đến ngày hội non sông. Thơ kháng chiến hay nói đến “ngày mai”, một ngày mai thanh bình ca hát. Phải đổ biết bao xương máu, phải có ngàn vạn chiến sĩ ngã xuống, nhân dân ta mới có “ngày mai” như các nhà thơ đã viết:

                “Phải bao máu thấm trong lòng đất
                Mới ánh hồng lên sắc tự hào?”

                                                                (Tố Hữu)

        Vì vậy, ta có thể nói, phần cuối bài “Bên kia sông Đuống” rất hay. Cảm hứng lãng mạn dào dạt. Nhân vật “em” lại xuất hiện. Duyên dáng, trẻ trung, tình tứ. Niềm tin về một ngày mai tái hợp sáng bừng vần thơ:

                “Bao giờ về bên kia sông Đuống
                Anh lại tìm em
                Em mặc yếm thắm
                Em thắt lụa hồng
                Em đi trẩy hội non sông
                Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh”.

    Cách chúng ta gần ba nghìn năm, nhà thơ Home (Hy Lạp) đã viết: “Không có mảnh đất nào êm đềm bằng quê cha đất mẹ”. Bài thơ “Bên kia sông Đuống” giúp ta cảm nhận sâu hơn ý tưởng của Home. Con sông Đuống và Thuận Thành, Kinh Bắc là quê hương nhà thơ. Nhưng người đọc thấy vô cùng thân thiết gắn bó với mình. Cái ý vị, cái hay của bài thơ là ở chỗ ấy. Câu thơ dào dạt theo cảm xúc rất hồn nhiên mà giàu nhạc điệu. Nhạc điệu ngọt ngào của dân ca Quan họ. Sâu lắng, thiết tha, bồi hồi là âm hưởng, là sắc điệu trữ tình đã thấm sâu vào hồn ta tình yêu quê hương đất nước. “Bên kia sông Đuống” xứng đáng là kiệt tác của thi ca Việt Nam hiện đại.



    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Văn Hào @ 00:31 25/05/2009
    Số lượt xem: 638
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến